Nguồn chính · Wikisource tiếng Việt
Kinh văn và chú giải
Toàn bộ nội dung bên dưới được nhập từ bản Kinh Dịch do Ngô Tất Tố dịch trên Wikisource tiếng Việt. Ứng dụng không trộn nội dung từ PDF, OCR hoặc nguồn Kinh Dịch khác vào phần này.
Mở đầu
Tự quái và lời dẫn
Truyện của Trình Di. - Quẻ Phục, Tự quái nói rằng: Vật không trọn hết, sự đẽo đã cùng ở trên, thì quay xuống dưới, cho nên tiếp quẻ Phục[1]. Vật không có lẽ đẽo hết, cho nên sự đẽo cùng cực thì phải trở lại, Âm cực thì Dương sinh, Dương bị đẽo cùng cực ở trên mà quay xuống dưới, vì vậy quẻ Phục mới nối quẻ Bác. Nó là quẻ một hào Dương sinh ở dưới năm hào Âm, đó là Âm cực mà Dương trở lại. Trong một năm, Âm thịnh đã cực, ngày Đông chí thì một khí Dươmg lại sinh ra ở trong đất, cho nên là quẻ Phục. Dương là đạo đấng quân tử, khí Dương tiêu cực mà lại trở lại,tức là đạo đấng quân tử tiêu đến cùng cực mà lại lớn lẻn, cho nên là nghĩa “trở lại đường thiện”-
Lời quẻ · quái từ
Quái từ
復亨,出入無疾,明來無咎
Dịch âm: Phục hanh xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu.
Quẻ Phục hanh, ra vào không tật, bạn đến không lỗi. GLÀI NGHĨA Truyện của Trình Di. - Phục hanh nghĩa là đã trở lại thì hanh thông. Khi Dương đã sinh ở dưới, dần dần hanh thịnh mà sinh nuôi muôn vật; đạo đấng quân tử đã trở lại thì dần dần hanh thông, tưới tắm cho thiên hạ, cho nên quẻ Phục có lẽ hanh thịnh. - Ra vào không tật: Ra vào chỉ về sinh lớn, lại sinh ở trong là vào; lớn tiến ở ngoài là ra, nói “ra” trước, là nói cho thuận mà thôi, khí Dương sinh ra, không phải là tự bên ngoài. Đến ở bên trong gọi là vào. Vật mới sinh khí nó rất nhỏ, cho nên phần nhiều hay gian truân, Dương mới sinh khí nó rất nhỏ, cho nên phần nhiều hay bị gẫy. Khí Dương mùa xuân phát ra khí Âm lạnh bẻ gẫy, cứ coi cây cỏ về lúc sớm tối có thể thây rõ. “Ra vào không tật” nghĩa là cái khí Dương nhỏ sinh rồi lớn, không có cái gì hại nó. Đã không có cái gì hại nó mà loại của nó dần dần tiến đến thì là sắp sửa hanh thịnh, cho nên không lỗi.
Thoán truyện
Lời Thoán
反復其道,其日來復,利有攸往.
Dịch âm: Phản phúc kỳ đạo, thất nhật lai phục, lợi hữu du vãng.
Lật đi lật lại thửa đạo, bảy ngày lại trở lại, lợi có thửa đi.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Ý nói cái đạo tiêu, lớn, lật đi, lặt lại, đắp đổi mà đến,
Bản nghĩa của Chu Hy: Phục là Dương lại sinh ở dưới, đẽo hết thì là quẻ
Lời bàn của Tiên nho: khi Dương tiêu đi,đến bảy ngày mà lại trở lại. Quẻ Cấu là Dương mới tiêu, bảy lần biến mà thạnh quẻ Phục, cho nên nói rằng bảy ngày, nghĩa là bảy lần đổi. Quẻ Lâm nói rằng: “Tám thống có hung^, nghĩa là từ lúc Dương lớn đến lúc Âm lớn trải tám tháng vậy. Dương tiến thì Âm lui, đạo đấng quân tử lớn lên thì đạo kẻ tiểu nhân tiêu đi, cho nên lợi có thửa đi. thuần Khôn, tức quẻ thuộc về tháng mười, mà khi Dương đã sinh ở dưới, chứa lại hơn tháng, rồi sau cái thể một phần khí Dương mới thành mà lại trở lại, cho nên tháng mười một, về quẻ là Phục, vì rằng khi đã đi lại trở lại, cho nên cái đạo hanh thông. Lại, trong Chấn ngoài Khôn, có Tượng “Dương động ở dưới mà theo đường thuận đi lên, cho nên lời chiêm của nó là ”mình ra vào đã được không tật, thì bè loại đi đến cũng không được lỗi”. Lại, vì tháng năm quẻ Cấn, một phần Âm mới sinh, đến đây là bảy hào, mà một phần Dương lại trở lại, đó là sự tự nhiên trong cuộc vận hành của trời. Nhưng lời Chiêm của nó là “lật đi lật lại thửa đạo, đến bảy ngày nên được trở lại”. Lại, vì đức cứng đang lớn lên, cho nên lời Chiêm của nó là “lợi có thửa đi”. Lật đi lật lại có thửa đạo, đến bảy ngày mới được trở lại”. Lại, vì đức cứng đang lớn lên, cho nên lời Chiêm của nó là “lợi có thửa đi”. “Lật đi lật lại thửa đạo” là ý “đi mà lại lại, lại mà lại đi”. Bảy ngày là kỳ trở lại của sự xem.
彖,復亨,剛反,動而以順行,.I以出Â無疾,朋來無咎.
Dịch âm: Táohn viết: Phục hanh, cương phản, động nhi dĩ thuận hành, thị dĩ xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu.
Lời Thoán nói rằng: Quẻ Phục hanh là cứng trở lại; động mà thấy sự thuận đi lên; cho nên ra vào không tật, bạn đến không lỗi.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Phục hanh nghĩa là đức cứng trở lại mà hanh, Dương
Bản nghĩa của Chu Hy: Đây lấy đức quẻ mà nói.
Lời bàn của Tiên nho: cứng tiêu đã cùng cực mà lại trở lại, đã trở lại thì dần dần thịnh mà hanh thông. “Động mà lấy sự thuận đi lên, cho nên ra vào không tật, bạn đến không lỗi” là nói về tài của quẻ, tức là nói cái cớ tại sao mà thế. Dưới động mà trên thuận, đó là “động mà lấy sự thuận đi lên”,Dương cứng trở lại mà động bằng cách xuôi thuận, cho nên được ra vào không tật, bạn đến mà không lỗi.
反復其道,七曰來復,天行也.
Dịch âm: Phản phúc kỳ đạo, thất nhật lai phục, thiên hành dã.
Lật đi lật lại thửa đạo, bảy ngày lại trở lại, vận trời vậy.
Chú giải
Bản nghĩa của Chu Hy: Âm Dương tiêu sinh, vận trời thế đó.
利有攸往,剛長也.
Dịch âm: Lợi hữu du vàng, cương trưởng dã.
Lợi có thửa đi, cứng lớn vậy.
Chú giải
Bản nghĩa của Chu Hy: Đây lấy thể quẻ mà nói. Đã sinh ra thì phải dần
Lời bàn của Tiên nho: dần lớn lên.
復其見天地造化之心乎.
Dịch âm: Phục kỳ hiến thiên địa, tạo hóa chi tâm hồ.
Quẻ Phục thửa thấy lòng của trời đất tạo hóa chăng?
Chú giải
Truyện của Trình Di: Cái đạo của nó trở đi trở lại, đắp đổi tiêu đi, đắp đổi
Bản nghĩa của Chu Hy: Dưới những phần Âm chồng chất, một phần
Lời bàn của Tiên nho: sinh ra, bảy ngày mà lại trở lại là cuộc vận hành của trời như thế. Tiêu, lớn nhân nhau, đó là lẽ của trời đất. Đạo của đấng quân tử, Dương cương lớn được, cho nên lợi có thửa đi. Một phần Dương trở lại ở dưới, đó là lòng của trời đất, Tiên nho đều cho là tĩnh thì thấy lòng trời đất, nhưng không biết rằng đầu mối sự động, tức là lòng của trời đất đó. Không phải là kẻ hiểu đạo, thì biết sao được lẽ ấy. Dương lại sinh ra, lòng sinh vật của trời đất đã hầu tắt đứt, đến đó lại thấy; ở người ta thì là tĩnh cực mà động; ác cực mà thiện, cái lòng sẵn có của mình hầu tắt mà lại hiện ra. Trình Tử bàn về lẽ đó kỹ rồi.
Tượng truyện
Đại Tượng
象曰:雷夺地中,復.先王以至日閉關,商旅不後不省方.:
Dịch âm: Tượng viết: Lôi tại địa trung, Phục, Tiên vương dĩ chí, nhật bế quan, thương lữ bất hành, hậu bất tỉnh phương.
Lời Tượng nói rằng: Sấm ở trong đất, là quẻ Phục, đấng Tiên vương coi đó mà ngày chí đóng cửa ải, kẻ thương lữ[2] không đi, các vua không xét các phương.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Sấm là Âm Dương xát nhau mà thành tiếng, đương
Bản nghĩa của Chu Hy: Đó là yên lặng để nuôi khí Dương. Thiên Nguyệt
Lời bàn của Tiên nho: lúc khí Dương còn nhỏ, chưa thể phát ra. Sấm ở trong đất là lúc khí Dương mới trở lại. Khi Dương mới sinh ở dưới mà còn rất nhỏ, yên lặng mà sau mới lớn được. Đấng Tiên vương thuận theo dạo trời, khi ngày “chí”,khí Dương mới sinh, yên lặng mà nuôi nó, cho nên đóng cửa ải lại, khiến kẻ thương lữ không được đi, ông vua không coi xét bốn phương, đó là xem tượng quẻ Phục mà thuận theo đạo trời vậy. Ở thân một người cùng vậy, nên yên lặng để nuôi khí Dương. lệnh, tháng ấy phải trai giới che mình, để đợi sự định đoạt của khí Âm khí Dương.
Sáu hào · từ dưới lên
Hào từ và Tiểu Tượng
Hào 1初九:不遠復,無祗悔,元吉.
Dịch âm: Sơ Cửu: Bất viễn phục, vô chỉ hối, nguyên cát
Hào Chín Đầu: Chẳng xa trở lại, không đến ăn năn, cả tốt.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Phục là khí Dương lại trở lại, Dương là đạo đấng
Bản nghĩa của Chu Hy: Một phần Dương lại sinh ở dưới, tức là chủ sự trở
Lời bàn của Tiên nho: quân tử, cho nên quẻ Phục là nghĩa trở lại đường thiện. Hào Đầu, Dương cứng trở lại, ở đầu quẻ, tức là chỗ trước nhất của sự trở lại, đó là chẳng xa mà đã trở lại. Có lỗi mất mà sau mới có trở lại, không lỗi mất thì còn trở lại gì nữa? Duy có lỗi mất chưa xa mà đã trở lại, thì không đến nỗi ăn năn, ấy là cả thiện mà tốt. Chữ Âm là chi, nghĩa là đến 無柢悔(vô chi hối) nghĩa là không đến ăn năn. Ông Nhan Tử không có cái lỗi hình hiện ra ngoài, đức Phu tử bảo là “ngõ hầu” đó là “không đến ăn năn”,cái lỗi đã chưa hình hiện, mà đổi đi rồi, thì còn ăn năn gì nữa? Đã chưa thể “không phải cố gắng mà trung” theo cái muốn của lòng mình mà không vượt khuôn phép” ấy là có lỗi, nhưng vì sáng mà cương quyết, cho nên, có một điều gì không phải, chưa từng không biết; đã biết, chưa từng không đổi ngay đi, cho nên không đến ăn năn, đó là không xa mà trở lại. lại ⽅氐(chi) nghĩa là đến. Lỗi mất chưa xa, đã biết trở lại đường thiện, không đến phải ăn năn, đó là cái đạo cả thiện mà tốt, cho nên Tượng, Chiêm của nó như thế.
Tiểu Tượng
象曰:休復之吉,以下仁也
Dịch âm: Tượng viết: Hưu phục chi cắt, dĩ hạ nhân dã.
Lời Tượng nói rằng: Đẹp sự trở lại mà tốt, vì biết lớn với kẻ nhân vậy.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Là sự trở lại đẹp đẽ mà tốt, vì nó biết nhún với kẻ
Lời bàn của Tiên nho: nhân. Nhân là đức chung của thiên hạ, là gốc của điều thiện, hào Đầu trở lại điều nhân, hào Hai biết thân và nhún với nó, cho nên mới tốt.
Hào 2六二:休復,吉.
Dịch âm: – Lục Nhị: Hưu phục cát!
Hào Sáu Hai: Đẹp sự trở lại, tốt!
Chú giải
Truyện của Trình Di: Tuy là hào Âm ở chỗ trung chính mà sát gần hào
Bản nghĩa của Chu Hy: Mềm thuận trung chính, gần hào Chín Đầu mà
Lời bàn của Tiên nho: Đầu, tức là chí theo về Dương, biết nhường người thân, ấy là sự trở lại tốt đẹp. Trở lại là trở lại với lễ, trở lại với lễ, thì là nhân; hào Đầu, khí Dương trở lại, tức là trở lại với nhân; hào Hai gần liền mà chịu lún nó, vì vậy mới đẹp mà tốt. biết nhường nó, ấy là sự trở lại tốt đẹp, tức là đạo tốt vậy.
Tiểu Tượng
象曰:頻復之属,義無咎也.
Dịch âm: Tượng viết: Tần phục chi lệ, nghĩa vô cữu dã.
Lời Tượng nói rằng: Cái nguy của sự luôn luôn trở lại, nghĩa không lỗi vậy.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Luôn luôn trở lại, luôn luôn lỗi mất, tuy là nguy dữ,
Lời bàn của Tiên nho: nhưng theo nghĩa trở lại điều thiện thì không có lỗi.
Hào 3六三:頻復,厲,無咎.
Dịch âm: Lục Tam: Tần phục lệ, vô cữu. Dỉch nghĩa. - Hào Sáu Ba: Luôn luôn trở lại, nguy! Không lỗi.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Hào Ba lấy chất Âm lại ở chỗ cùng cực của sự
Bản nghĩa của Chu Hy: Là hào Âm, ở ngôi Dương, không giữa không
Lời bàn của Tiên nho: động, tức là trở lại luôn luôn mà không được bền, Sự trở lại quý ở yên bền, luôn luôn lỗi mất, ấy là không yên về sự trở lại. Trở lại đường thiện mà lại luôn luôn lỗi mất, đó là cách nguy. Đấng thánh nhân mở đường “thiên nhiên”, khen sự trở lại của nó mà lo cho sự luôn luôn lỗi mất của nó, cho nên nói “nguy, không lỗi” không thể vì sự luôn luôn lỗi mất mà răn sợ sự trở lại của mình. Năng bị lỗi mất là nguy, nhưng đã năng trở lại thì còn lỗi gì? Lỗi ở sự mất, không ở sự trở lại. chính, lại ở vào chỗ cùng cực của sự động mà không bền, đó là cái tượng “luôn luôn lỗi mất, luôn luôn trở lại”. Luôn luôn lỗi mất, cho nên mới nguy, trở lại thì không có lỗi, cho nên lời Chiêm của nó lại như thế.
Tiểu Tượng
象曰:中行獨復,以從道也.
Dịch âm: Tượng viết: Trung hành độc phục, dĩ tòng đạo dã.
Lời Tượng nói rằng: Đi giữa, một mình trở lại, để theo đạo vậy.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Khen có một mình trở lại, vì nó biết theo đạo thiện,
Lời bàn của Tiên nho: thiện của đấng quân tử Dương cương vậy.
Hào 4六四:中行獨後.
Dịch âm: Lục Tứ: Trung hành độc phục.
Hào Sáu Tư: Đi giữa một mình trở lại.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Nghĩa của hào này, rất nên ngẫm kỹ, hào Tư đi giữa
Bản nghĩa của Chu Hy: Hào Tư ở giữa cốc hào Âm, mà một mình nó ứng
Lời bàn của Tiên nho: các hào Âm, mà một mình nó biết trở lại, tự ở vào chỗ chính đính, bên dưới ứng nhau với hào Dương cương, thì cái chí nó, đáng gọi là thiện. Không nói tốt xấu, vì là hào Tư lấy chất mềm giữa các hào Âm, hào Đầu Dương còn rất nhỏ, không đủ cứu nó, không có cái lý có thể nên việc, cho nên thánh nhân chỉ khen nó biết một mình trở lại, không muốn nói nó một mình theo đạo là ắt phải hung: Hỏi rằng: Thế thì không nói “không lỗi” là sao? Đáp rằng: Lấy chất Âm ở ngôi Âm; nhu nhược, thái thậm, tuy có chí theo Dương, rút lại không thể nên việc, không phải là không có lỗi. với hào Đầu, đó là Tượng “đi với nhiều người, mà một mình mình biết theo đường thiện”. Trong lúc đó, khí Dương rất nhỏ, chưa thể làm gì, cho nên không nói là tốt. Nhưng mà lẽ nên như thế, tốt xấu không phái là việc đáng bàn.
Tiểu Tượng
象曰:敦復無悔,中以自考也.
Dịch âm: Tượng viết: Đôn phục vô hối, trung dĩ tự khảo dã.
Lời Tượng nói rằng: Dốc lòng về sự trở lại, dùng đạo trung để tự nên vậy.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Tức là dùng đạo “trung”,để tự làm nên cho mình.
Bản nghĩa của Chu Hy: Chữ “khảo” nghĩa là “nên”.
Lời bàn của Tiên nho: Hào Năm lấy chất Âm đương ngôi tôn, ở chỗ giữa mà thể theo sự thuận, biết dốc lòng dùng đạo trung để làm nên cho minh, thì có thể không phải ăn năn. Tự làm nên, nghĩa là làm nên cái đức trung thuận.
Hào 5六五:敦復,無悔.
Dịch âm: Lục Ngũ: Đôn phục, vô hối..
Hào Sáu Năm: Dốc lòng về sự trở lại,không phải ăn năn.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Lấy đức trung thuận ở ngôi vua; biết dốc lòng là sự
Bản nghĩa của Chu Hy: Lấy đức trung thuận ở ngôi tôn, mà đương vào
Lời bàn của Tiên nho: trở lại đường thiện, cho nên không phải ăn năn. Tuy vốn vẫn phải, nhưng lời răn cũng ở trong đó. Trong lúc khí Dương trở lại nhưng hãy còn nhỏ, mà lấy đức mềm ở ngôi tôn, phía dưới lại không có kẻ giúp đỡ, chưa thể hanh tốt, chỉ không ăn năn mà thôi. lúc trở lại, đó là Tượng “dốc lòng về sự trở lại”, tức là cách không phải ăn năn.
Tiểu Tượng
象曰:迷復之凶,反君道也.
Dịch âm: Tượng viết: Mê phục chi hung, phản quân đạo dã.
Lời Tượng nói rằng: Cái hung của kẻ lú lấp sự trở lại, là trái đạo vua vậy. GLẢI NGHĨA Truyện của Trình Di. - Trở lại thì hợp với đạo, đã lú lấp sự trở lại, là trái với đạo, đủ biết là hung, đem mà trị nước, vua phải hung[4], vì nó trái với đạo vua. Ông vua ở trên trị dân, nên theo điều thiện của thiên hạ, thế mà lại lú lấp về sự trở lại đường thiện, ấy là phản lại đạo vua. Chẳng phải ông vua mà thôi, người nào lú lấp về sự trở lại, cũng là trái đạo mà hung. Chú thích: [1] Chữ 後 (Phục) nghĩa là trở lại. [2] Thương là người buôn bán, lữ là kẻ đi đường. [3] Tức là quẻ Khôn. [4] Câu này dịch theo ý của Trình Di, đã dẫn vào ở chương trên.
Hào 6上六:年復,巧,有災眚.用#師,終有大琴,以其國君;凶Ẵ手十年,不可征.
Dịch âm: Thượng Lục: Mê phục, hung, hữu tai sảnh, dụng hành sư, chung hữu đại bại; dĩ kỳ quốc quân,hung, chí vu thập niên, bất khắc chính.
Hào Sáu Trên: Lú lấp sự trở lại, hung! Có vạ tội, dùng để trẩy quân, sau chót có thua lớn; tới cả vua nước đó, đến chừng mười năm, không thể đi.
Chú giải
Truyện của Trình Di: Đây là kẻ lấy chất Âm nhu ở vào chót cuộc trở lại, rút
Bản nghĩa của Chu Hy: – Lấy chất Âm mềm ở chót cuộc trở lại, đó là tượng
Lời bàn của Tiên nho: lại vẫn lú lấp mà không trở lại. Lú lấp mà không trở lại,đủ biết là hung. Có vạ tội: vạ là vạ trời, tự ngoài đến, tội lối mình, do mình làm ra. Đã lú lấp không biết trở lại đường, thiện, ở mình thì động đâu là lầm lỗi đấy, tai họa cũng tự bên ngoài mà đến, nghĩa là cũng bởi tự mình vời đến. Lú lấp đường lối mà không trở lại, không thể thi thố việc gì được cả, dùng để trẩy quân, thì rút lại phải có thua lớn, đem mà trị nước, thì là điềm hung của ông vua. Mười năm là chỗ chót của số, đến mười năm không thể đi, nghĩa là cùng chót không thể đi đâu. Đã lú lấp đường lối, thì bao giờ mà đi được? cùng chót vẫn lú lấp không biết trở lại, cho nên lời chiêm như thế, chữ 以(dĩ) cũng như chữ 及(cập là kịp). Có người hỏi: Y Xuyên nói “tai tự ngoài đến, sảnh tự trong ra” có phải hay không? Chu tử đáp rằng: Xem ra hai thứ cũng một hơi không giống nhau mà thôi. Tai là cái ngẫu nhiên sinh ra ở kia, sảnh là do sự lầm lỗi mà đến thế. Kinh Thư nói,眚災碑赦 (sảnh tai tứ xá), sách Xuân thu nói 四⼤眚 (tứ đại sảnh) đều vì sự lỗi lầm mà tha cả. Hồ Vân Phong nói rằng: Thể mẹ[3] mà ở trên thể trên, đó là kẻ lú lấp trước. Lú lấp chẳng những chỉ hung, lại có vạ lớn, tội lớn, dùng để trẩy quân, cùng chót phải có thua to, kịp cả vua nước hung. Đến mười năm, cùng chót không thể đi đâu đó là hết sức nói việc lú lấp sự trở lại là việc không nên. “Lú lấp sự trở với “chẳng xa trở lại” trái nhau, hào Đầu chẳng xa mà trở lại lú lấp thì xa mà không trở lại: “dốc lòng trở về sự trở lại” với “luôn luôn trở lạin trái nhau, ”dốc” là không lay chuyển thay đổi, “luôn luôn thì thay đổi liền liền. “Một mình trở lại” với “đẹp sự trở lại” giống nhau, “đẹp” thì liền với hào Đầu, “một mình” thì ứng với hào Đầu. “Mười năm không thể đi” cũng trái lại với “bảy ngày lại trở lại”. Kiền nguyên là mười, Khôn nguyên là một, số Âm cùng tận ở “Sáu,,mà “bảy” lại là chỗ bắt đầu của Kiền; số Dương cùng tận ở “chín” mà “mười” thì là chỗ cuối chót của Khôn. Cho nên, hễ nói “mười năm” là tượng chót Khôn, quẻ Chuân “mười năm mới đặt tên chữ” quẻ Di “mười năm chớ đều có đắp đổi thể Khôn.